Bảo tồn và phát triển văn hóa Đài Loan

0
341

Cùng với những thắng cảnh thiên nhiên, công trình hiện đại nổi tiếng thế giới, những cơ sở tôn giáo phục vụ cộng đồng địa phương như đền, chùa, miếu được tăng thêm giá trị văn hóa nhờ việc xây dựng mới hoặc trùng tu đảm bảo yếu tố kiến trúc truyền thống, duy trì sinh hoạt tâm linh của dân cư để thu hút du khách, đồng thời quảng bá bằng du lịch… hiện nay tất cả được coi là di sản văn hóa của Đài Loan. Ngoài ra còn là hệ thống bảo tàng các loại hình cổ vật, lịch sử, văn hóa, tự nhiên, kỹ thuật… cũng được chính phủ và người dân quốc gia này không ngừng gìn giữ và phát triển.

  1. Văn hóa truyền thống

Chỉ sau gần hai chục năm nhiều tộc người bản địa đã có sự thay đổi đáng kể về đời sống vật chất và quan trọng hơn là văn hóa truyền thống của họ đã được bảo tồn một cách tích cực. Du khách đến Đài Nam luôn được giới thiệu đặc sản Trà Ô Long và nấm Linh Chi trên núi A Lý Sơn. Hai sản phẩm này được chính phủ quy định chỉ dành riêng cho một số tộc người bản địa trồng trọt và khai thác, đồng thời hướng dẫn họ kết hợp lối sống và canh tác truyền thống vào phương thức “du lịch sinh thái” nhằm vừa bảo tồn vừa phát triển “tài nguyên bản địa” và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng. Không chỉ có trà và nấm được bán với giá không rẻ so với sản phẩm cùng loại ở “đại lục” mà còn nhiều nông sản khác được chế biến phục vụ du lịch, sản phẩm có uy tín vì là “nông sản sạch” không phân bón, không thuốc trừ sâu và sản xuất bằng máy móc với quy trình khép kín từ nguyên liệu đến thành phẩm.


Là thiểu số nên từ khoảng đầu thế kỷ 20 trước làn sóng ồ ạt người Hoa đến Đài Loan, văn hoá (ngôn ngữ, trang phục, ẩm thức, lối sống…) của nhiều tộc người bản địa đã bị mai một khi đa số thanh niên cố gắng hoà nhập vào xã hội hiện đại. Trước nguy cơ văn hóa bản địa biến mất, từ cuối thế kỷ 20 chính phủ đã ban hành các chính sách khuyến khích văn hoá địa phương, các tổ chức của cộng đồng, tổ chức phi chính phủ thành lập để phát triển, bảo tồn lịch sử, văn hoá của mọi tộc người. Bởi vì Đài Loan là một xã hội đa văn hoá, chấp nhận sự đa dạng và cởi mở giao lưu với nhau giữa các tộc người Austronesian, Hoklo, Hakka và người Hoa ở lục địa sang là phương thức bảo tồn và phát triển hữu hiệu nhất.

Nhiều ca sĩ nổi tiếng ở Đài Loan và Trung quốc là người bản địa Đài Loan, họ đã góp phần tích cực vào việc gìn giữ văn hóa tộc người như trình diễn, sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ đồng thời mang văn hóa hiện đại đến với cộng đồng mình qua những “bản nhạc trẻ” với lời ca dân gian trình bày bằng tiếng Hoa, tiếng Anh.

  1. Văn hóa của các tộc người bản địa

Dinh Tổng thống đặt tại quận Trung Chính, nơi đây là trụ sở chính cho các cơ quan giúp việc cho Tổng thống và Phó tổng thống Đài Loan. Là một kiến trúc vào thời Minh Trị do kiến trúc sư Uheiji Nagano thiết kế vào thời kỳ Đài Loan thuộc đế quốc Nhật Bản (1895 – 1945), bị hư hỏng nặng do quân đồng minh ném bom trong Thế chiến thứ hai, tòa nhà đã được khôi phục sau chiến tranh và trở thành Phủ Tổng thống từ năm 1950.

Hiện nay Dinh là tòa nhà hình vuông có bốn khối nhà và mặt chính có một tháp cao, mái và tường chỉ hai màu trắng và đỏ nâu trông trang trọng mà khiêm nhường. Bốn phía không có hàng rào ngăn cách với những đại lộ lớn rợp bóng cây xanh.

Vào năm 2000 đã diễn ra một buổi lễ nhậm chức Tổng thống rất đặc biệt. Khi buổi lễ bắt đầu, mọi quan khách trong và ngoài nước tưởng sẽ nghe bài quốc ca Cộng hoà Trung quốc (Republic of China) đầu tiên, nhưng tất cả đều ngạc nhiên khi một nhóm nhạc sĩ thổ dân của bộ lạc Bunum bản xứ (thuộc tộc Nam đảo) đứng lên hát bài ca dân tộc truyền thống “Báo tin vui”. Sau đó là phần trình diễn của các bộ lạc bản xứ khác, tiếp theo là bài hát dân ca của người Hakka (Hẹ hay Khách trú) và dân ca người Holo. Chỉ khi tổng thống Trần Thuỷ Biển và phó tổng thống bà Annette Lu bước ra từ dinh Tổng thống thì bài quốc ca mới được cử lên.

Buổi lễ này là một cái mốc quan trọng về văn hóa – xã hội của Đài Loan, cái mốc cho thấy sự tôn trọng văn hóa của các tộc người bản địa đã cư trú ở đây hàng ngàn năm trước khi người Hoa có mặt, sự tôn trọng không chỉ dừng lại ở chủ trương có từ trước đó mà bắt đầu được thực thi bằng nhiều chính sách cụ thể.

  1. Công trình xây dựng

Do hoàn cảnh lịch sử nên Đài Loan có rất ít di tích niên đại lên đến vài trăm năm, chỉ có một số công trình xây dựng từ khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 nhưng cũng đã qua trùng tu nhiều lần do thiên tai, chiến tranh. Vậy nhưng du lịch văn hóa – tâm linh rất phát triển ở Đài Loan mà đối tượng hướng đến là những đền, chùa, tháp chỉ mới được xây dựng vài chục năm nay. Từ Đài Nam lên Đài Trung, Đài Bắc ta có thể nhận biết nhiều công trình như vậy.

Ở thành phố cảng Cao Hùng có Phật Quang Sơn, ngôi chùa lớn nhất và cũng là bảo tàng Phật Giáo lớn nhất của Đài Loan, được mệnh danh là “thánh địa Phật Giáo” sáng lập và hình thành từ thập kỷ 60 của thế kỷ trước. Long Hổ Tháp kiến trúc đầy màu sắc và mang đậm nét văn hóa Đài Loan, là công trình nổi bật nhất trong quần thể các đền, chùa trên Đầm Liên Trì.

Ở Nam Đẩu thuộc Đài Trung có Nhật Nguyệt Đàm là hồ nước thiên nhiên lớn nhất Đài Loan gồm một hồ lớn và một hồ nhỏ liền nhau, được bao bọc bởi màu xanh bạt ngàn của những dãy núi xung quanh. Hồ Nhật Nguyệt còn được truyền tụng bởi huyền thoại về việc tìm nơi cư trú của một bộ lạc cổ xưa, từng là điểm nghỉ dưỡng ưng ý nhất của Tưởng Giới Thạch và vợ là bà Tống Mỹ Linh. Cảnh quan hồ không đẹp hơn những hồ nước ở Việt Nam nhưng thiên nhiên được bảo tồn khá nguyên vẹn và dịch vụ du lịch thì rất tốt. Gần đó là Văn võ miếu thờ Quan Công và Khổng Tử nổi tiếng linh thiêng. Ngôi miếu rất lớn nằm ở vị trí nhìn ra hồ Nhật Nguyệt kiến trúc đậm phong cách Trung Hoa, thu hút khá đông du khách đến thăm viếng, gieo quẻ và cầu xin những điều tốt lành.

Lên đến Đài Bắc, nơi chỉ là làng nhỏ Thập Phần còn lưu giữ một đoạn đường xe lửa từ thời Nhật giữa hai dãy phố ngắn, nay chuyên bán đồ lưu niệm, phục vụ du khách thả đèn lồng cầu may mắn và có thể chiêm nghiệm cảm giác đi xe lửa chạy bằng đầu máy hơi nước một đoạn đường ngắn. Hay Chùa Long Sơn một kiến trúc hoàn toàn cổ kính, xây dựng giữa khu phố trung tâm hiện đại nhưng bên trong là không gian rộng rãi yên bình có thác nước chảy đêm ngày. Khách du lịch nườm nượp, người đến cúng bái cũng rất đông nhưng tất cả đều tỏ thái độ thành kính…

Sự “linh thiêng” hay tính chất “truyền thống” ở những địa điểm trên không chỉ do truyền thuyết mà còn do cách quản lý điều hành tôn trọng những sinh hoạt tôn giáo, sinh hoạt dân gian và không lấy yếu tố kinh doanh là chính để chi phối. Nhưng chính vì vậy mà nguồn thu từ du lịch không hề nhỏ, cho thấy giá trị văn hóa của di tích được “quy đổi” thành giá trị kinh tế một cách hợp lý như thế nào.

Tham Khảo: Trung tâm văn hóa ngôn ngữ- Đại học Quốc Gia Đài Loan

PHẢN HỒI CỦA BẠN

Bạn chưa viết bình luận!
Bạn vui lòng điền đầy đủ họ và tên

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.